Tiểu nhiều và tiểu đêm là tình trạng mà người bệnh gặp khó khăn trong việc kiểm soát nhu cầu đi tiểu, dẫn đến việc phải tiểu nhiều lần, đặc biệt là vào ban đêm.
Ta có thể sử dụng sử dụng các thiết bị diện chẩn kết hợp với phác đồ diện chẩn của giáo sư Bùi Quốc Châu để can thiệp giảm các cơn ho khan, ngứa cổ.
Nguyên nhân dẫn tới tiểu nhiều, tiểu đêm
- Nguyên nhân sinh lý
- Nhu cầu tăng nước: Cung cấp nước quá mức hoặc tiêu thụ các loại thực phẩm giàu nước (như trái cây, nước ngọt).
- Tác động của thuốc: Một số loại thuốc như thuốc lợi tiểu, thuốc chống viêm hay thuốc điều trị cao huyết áp có thể làm tăng sản xuất nước tiểu.
2. Nguyên nhân bệnh lý
- Tiểu đường: Cả tiểu đường loại 1 và loại 2 đều có thể gây ra tiểu nhiều do mức đường huyết cao làm tăng thải glucose qua nước tiểu, kéo theo nước, dẫn đến tăng tiểu.
- Bệnh thận: Các bệnh thận mạn tính hoặc suy thận có thể làm giảm khả năng cô lại nước tiểu, dẫn đến tiểu nhiều.
- Bệnh tuyến giáp: Cường giáp có thể làm gia tăng quá trình trao đổi chất, dẫn đến tiểu nhiều.
- Nhiễm trùng đường tiểu: Nhiễm khuẩn có thể kích thích bàng quang và tạo cảm giác tiểu nhiều.
- Chứng phì đại tuyến tiền liệt: Ở nam giới, tăng kích thước tuyến tiền liệt có thể gây áp lực lên bàng quang, dẫn đến tiểu nhiều vào ban đêm.
3. Nguyên nhân tâm lý
- Stress và lo âu: Một số người có thể cảm thấy cần phải đi tiểu nhiều khi họ trong trạng thái lo âu hoặc căng thẳng.
Triệu chứng của tiểu nhiều và tiểu đêm
Triệu chứng của tiểu nhiều và tiểu đêm có thể khác nhau nhưng thường có một số điểm chung:
- Tiểu nhiều: Có thể xem xét là đi tiểu hơn 2,5 lít mỗi ngày. Người bệnh thường cảm thấy cần phải đi tiểu thường xuyên hơn mức bình thường.
- Tiểu đêm: Tiểu đêm xảy ra khi người bệnh phải thức dậy nhiều lần trong đêm để đi tiểu. Bình thường, một người trưởng thành có thể thức dậy 1 lần hoặc không cần thức dậy để đi tiểu trong đêm.
- Cảm giác khát nước: Người bệnh có thể cảm thấy khát nhiều hơn do lượng nước tiểu thải ra lớn.
- Mệt mỏi: Việc phải thức dậy trong đêm để đi tiểu có thể dẫn đến mất ngủ và mệt mỏi vào ban ngày.
Áp dụng phác đồ diện chẩn vào việc hỗ trợ giảm tiểu nhiều, tiểu đêm
Cách xử lý đơn giản (dành cho mọi người):

- Gạch/chà sáu vùng phản chiếu hệ Bạch Huyết 1-3 lần/ngày.
- Cào đầu, chà trán, chà cằm 3 lần/ngày (riêng vùng cằm nên chà 5-6 lần/ngày).
- Gạch các vùng theo chiều mũi tên 1-2 phút/vùng, 2-3 lần/vùng (Riêng vùng dái tai thì dùng hai ngón tay vò nóng lên), thực hiện 1-3 lần/ngày.
- Sấy/chườm nóng bụng dưới và vùng xương cụt 2-3 phút/lần, 1-3 lần/ngày.
Cách xử lý chuyên sâu (dành cho người đã sử dụng thành thạo các kỹ thuật Diện Chẩn Bùi Quốc Châu):

- Thực hiện các cách đơn giản như trên.
- Day ấn bộ huyệt (có thể dán cao nếu hợp). Bộ huyệt trị tiểu nhiều: 87, 19, 1, 0, 37, 103, 124, 300, 126. Thực hiện 1-2 lần/ngày.
Chế độ ăn uống sinh hoạt phù hợp
- Nên uống nước ấm.
- Hạn chế các chất kích thích (cà phê, bia, rượu).
- Tập dưỡng sinh (Âm Dương Khí Công, Thể Dục Tự Ý).
Một số lưu ý khi áp dụng phương pháp Diện Chẩn
- Nên thực hiện phương pháp Diện Chẩn trong môi trường yên tĩnh và thoải mái, cơ thể được thư giãn cũng sẽ giúp cảm nhận chữa trị và hồi phục tốt hơn, từ đó giúp các biện pháp chữa trị phát huy được tác dụng.
- Diện Chẩn có thể kết hợp với các phương pháp hỗ trợ khác như uống nước ấm, tập yoga và thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh.
- Luôn đảm bảo các ngón tay và khu vực da được vệ sinh sạch sẽ trước khi thực hiện Diện Chẩn.
- Nếu tình trạng không cải thiện, nên tham khảo ý kiến của các chuyên gia y tế để có biện pháp điều trị kịp thời.
Một số sản phẩm Diện Chẩn tham khảo
- Que dò day huyệt
- Sách Âm Dương Khí Công
Kết luận
Phương pháp Diện Chẩn, với tác động lên các huyệt đạo đặc biệt trên khuôn mặt và cơ thể, có thể là giải pháp hỗ trợ hiệu quả. Bằng cách kích thích các huyệt đạo liên quan đến hệ tiết niệu, Diện Chẩn giúp điều hòa chức năng bàng quang, giảm tình trạng tiểu đêm và tiểu nhiều lần. Tuy nhiên, phác đồ trên chỉ mang tính chất tham khảo, bạn nên linh hoạt điều chỉnh theo tình hình thực tế. Để được tư vấn chính xác, hãy thăm khám tại các bệnh viện lớn.
Bài viết trên có tham khảo từ tài liệu của Giáo sư – Tiến sĩ Khoa học Bùi Quốc Châu.



